Xuất phát từ sự tích về Bồ tát Mục Kiền Liên đại hiếu đã cứu mẹ của mình ra khỏi kiếp ngạ quỷ. Vu Lan là ngày lễ hằng năm để tưởng nhớ công ơn cha mẹ (và tổ tiên nói chung) - cha mẹ của kiếp này và của các kiếp trước.
Theo kinh Vu Lan thì ngày xưa, Mục Kiền Liên đã tu luyện thành công nhiều phép thần thông. Mẹ ông là bà Thanh Đề
đã qua đời, ông tưởng nhớ và muốn biết bây giờ mẹ như thế nào nên dùng
mắt phép nhìn khắp trời đất để tìm. Thấy mẹ mình, vì gây nhiều nghiệp ác nên phải sanh làm ngạ quỷ, bị đói khát hành hạ khổ sở, ông đã đem cơm xuống tận cõi quỷ
để dâng mẹ. Tuy nhiên do đói ăn lâu ngày nên mẹ của ông khi ăn đã dùng
một tay che bát cơm của mình đi không cho các cô hồn khác đến tranh
cướp, vì vậy khi thức ăn đưa lên miệng đã hóa thành lửa đỏ.
Cũng theo kinh Vu-Lan-bồn, Mục Liên quay về tìm Phật
để hỏi cách cứu mẹ, Phật dạy rằng: "Dù ông thần thông quảng đại đến đâu
cũng không đủ sức cứu mẹ ông đâu. Chỉ có một cách nhờ hợp lực của chư
tăng khắp mười phương mới mong giải cứu được. Ngày rằm tháng bảy là ngày
thích hợp để cung thỉnh chư tăng, hãy sắm sửa lễ cúng vào ngày đó".[1]
Làm theo lời Phật, mẹ của Mục Liên đã được giải thoát. Phật cũng dạy rằng: chúng sanh ai muốn báo hiếu cho cha mẹ cũng theo cách này (Vu-Lan-Bồn Pháp). Từ đó, ngày lễ Vu-lan ra đời.
Vu Lan bồn kinh
Kinh Vu-Lan-Bồn (chữ Hán:佛說報恩奉盆經, bính âm:Fúshuō Bào'ēn Fèngpén jīng, Hán-Việt: Phật thuyết báo ân phụng bồn kinh, còn gọi là Phật thuyết Vu Lan Bồn kinh) là một bộ kinh Đại thừa, bao gồm một bài giảng ngắn gọn ("pháp thoại") được cho là bởi Đức Phật Thích Ca
dạy nhà sư Mục Kiền Liên cách thực hành đạo hiếu, theo đó Phật dạy cách
làm thế nào để có được sự giải thoát cho mẹ mình, và cách báo hiếu cha
mẹ, những người đã được tái sanh vào cõi âm, bằng cách cúng dường thực
phẩm cho Tăng đoàn vào ngày rằm tháng bảy, và nhờ lời chư Tăng chú nguyện mà được cứu độ.
Truyền thống Phật giáo cho rằng kinh này đã được dịch từ tiếng Phạn bởi cao tăng Trúc Pháp Hộ (chữ Hán:竺法護, sa. Dharmarakṣa, Đàm Ma La Sát) dịch vào khoảng cuối thế kỷ thứ III đầu thế kỷ thứ IV.[2]
"Tuy nhiên, các học giả gần đây thừa nhận rằng kinh này ban đầu không
có gốc từ Ấn Độ mà được trước tác tại Trung Quốc vào giữa thế kỷ thứ
sáu".[3]
Văn bản gốc do Trúc Pháp Hộ dịch (hoặc được viết trong thời đại của
ông) còn lưu lại đều không đề cập đến nhân thân của Tôn giả Mục Kiền
Liên và câu chuyện của mẹ ông, mà chỉ trong các tác phẩm của người đời
sau tại Trung Quốc, như Mục Kiền Liên minh gian cứu mẫu biến văn được xác định viết vào khoảng từ thế kỷ thứ V đến cuối thế kỷ thứ X, mới có kể về sự tích trên.[1] Cũng có giả thuyết cho rằng, câu chuyện Mục Kiền Liên là biến tấu từ chuyện Ưu Đa La mẫu đọa ngạ quỷ duyên, gọi tắt là kinh Ưu Đa La mẫu có viết trong mục "Chuyện ngạ quỷ" của bộ Tiểu bộ kinh, chỉ thay tên nhân vật từ Ưu Đa La (Uttara hay là Uttaramātu) thành Mục Kiền Liên và thay tên người giảng là một tỳ kheo thành lời giảng của đức Phật.[1]
Truyền thống lễ nghi

Cúng trên chùa
Tết Trung Nguyên tại Đài Loan
Trong một số nước Á Đông, ngày lễ này thường được tổ chức vào ngày 15 tháng 7 (Âm lịch), để tỏ hiếu với cha mẹ, ông bà và cũng để giúp đỡ những linh hồn đói khát.
Ngoài ra, còn có cúng dường, làm phước, phóng sinh, bố thí để hồi hướng công đức cho cha mẹ.
Trung Quốc
Trong
văn hóa Trung Hoa, ngày rằm tháng bảy âm lịch thuộc Tiết Trung Nguyên
và được gọi là Ngày ma (hồn người chết) và tháng thứ bảy nói chung được
coi là Tháng ma (鬼月, Quỷ nguyệt), trong đó những con ma và linh hồn, bao gồm cả của tổ tiên đã qua đời, đến từ các cõi âm. Cùng với lễ Thanh minh (vào mùa xuân) và Trùng cửu
(vào mùa thu), con cháu còn sống tỏ lòng tôn kính đối với tổ tiên đã
qua đời của họ, trong Lễ hội hồn ma, người chết được cho là về thăm
những người sống.[4]
Vào ngày thứ mười lăm, cõi thiên đàng và địa ngục và cõi người sống mở cửa và cả tín đồ Đạo giáo và Phật giáo
sẽ thực hiện các nghi lễ để chuyển hóa và giải oan khổ của người quá
cố. Trọng tâm cho Tháng âm hồn là tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên, nơi mà
theo truyền thống hiếu thảo
của con cháu đối với tổ tiên của họ kéo dài ngay cả sau khi tổ tiên đã
qua đời. Các hoạt động trong tháng này sẽ bao gồm việc chuẩn bị thực
phẩm cúng dường nghi lễ, đốt hương, đốt giấy vàng mã, một dạng hiện vật
bằng giấy như quần áo, vàng và hàng hóa tốt khác để cúng dường tổ tiên
khi họ về thăm. Bữa ăn được chuẩn bị chu đáo (thường là ăn chay)
sẽ được phục vụ với các ghế trống cho mỗi người quá cố trong gia đình
và đối xử với những người đã chết như thể họ vẫn đang còn sống.[4][5]
Việt Nam
Mâm cơm cúng ngoài trời, tại Huế
Tại Việt Nam, việc cúng Rằm tháng Bảy bao giờ cũng phải cúng ở chùa (thờ Phật) trước, rồi mới đến cúng tại gia[6]. Lễ này thường được làm vào ban ngày, tránh làm vào ban đêm, khi Mặt Trời đã lặn[6]. Ngoài ra, theo truyền thống tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên
trong dân gian, ngày này là ngày "Xá tội vong nhân" nên nhiều nhà có
mâm cơm cúng trước nhà, để cúng những vong linh bơ vơ không gia đình,
còn gọi theo dân gian là "cúng cô hồn, "cúng thí thực" (tặng thức ăn).
Vào ngày này, mọi gia đình đều cúng hai mâm: cúng tổ tiên tại bàn thờ tổ tiên và cúng chúng sinh (cúng thí thực hay cúng cô hồn) ở sân trước nhà hoặc trên vỉa hè (nếu đường rộng), thời gian cúng có thể là vào buổi sáng, trưa hoặc chiều[6].
Trên mâm cúng tổ tiên, gia đình bày đặt một mâm cỗ mặn, tiền vàng và cả những vật dụng dành cho người cõi Âm tức đồ mã làm bằng giấy có tính tượng trưng nhưng hình dạng giống như đồ thật như quần áo[7][8], giày dép, áo bào, cung điện, ngựa, các vật dụng trang sức...[8], mũ kepi, người giúp việc [9]... đến những vật hiện đại: nhà cao tầng, xe ô tô, xe máy, điện thoại...[7][8][10]
để cho người cõi Âm có được một cuộc sống tiện nghi giống như người
Dương trần. Những đồ lễ đó thường được làm tại các cơ sở sản xuất (nổi
tiếng là khu phố vàng mã ở Chợ Lớn TP.HCM" được vận chuyển đi khắp các tỉnh thành[8][10].
Trên mâm cúng chúng sinh thì lễ vật gồm có: quần áo chúng sinh với nhiều màu sắc (xanh lam, xanh lá mạ, vàng, hồng...), các loại bỏng ngô, chè lam, kẹo vừng, kẹo dồi, bánh quế, cháo, tiền vàng, cốc nước lã hoặc rượu (có thể thêm nước ngọt, bia nếu có điều kiện), cốc gạo trộn lẫn với muối
(cốc này sẽ được rắc ra vỉa hè hoặc sân nhà về bốn phương tám hướng sau
khi cúng xong), ngô, khoai lang luộc, cháo hoa... và những lễ vật khác
dành cho những cô hồn, ma đói không nơi nương tựa. ở chùa khi cúng chúng
sinh xong người ta thường gọi những đứa trẻ xung quanh đến rồi cho
chúng cùng nhảy vào tranh cướp những vật cúng: như bỏng, oản... tượng
trưng cho những cô hồn...
Tại các chùa và hội đoàn Việt Nam, vào ngày lễ Vu Lan thường có nghi thức "Bông hồng cài áo", là cài bông hồng cho những ai còn mẹ và bông trắng cho những ai mất mẹ, nhắc nhở về lòng hiếu thảo và tình người. Nghi thức này do thiền sư Nhất Hạnh khởi xướng trong cuốn sách viết năm 1962.[11] Một số địa phương có tục lệ riêng như ở Quy Nhơn thì dân chúng xếp thuyền giấy rồi thả ra biển để tưởng nhớ những ai ra khơi rồi mất tích như hồi thập niên 1980-90 với nạn thuyền nhân vượt biên.[12]
Vào "tháng cô hồn", người Việt Nam theo phong tục tin là tháng không
may mắn và có những điều kiêng kỵ như không mua sắm, không đi chơi đêm,
không nhổ lông chân, không phơi quần áo, không bơi lội… và tùy vùng còn
có thêm những kiêng kỵ khác như không khai trương, mở cửa hàng, lập gia
đình, xây nhà,...[13]
Nhiều người còn kiêng cữ và ăn chay trong tháng 7 nên các hàng quán bán
thức ăn mặn và rượu bia (như tại Thành phố Hồ Chí Minh) buôn bán ế ẩm
và thường đóng cửa sớm.[14]
Nhật Bản
Tại Nhật Bản
ngày lễ này được tổ chức vào ngày 15 tháng 8 dương lịch, gọi là Obon
(お盆?) hay là Bon (盆?), thường kéo dài 3 ngày. Vào những ngày này, người
Nhật thường có hỏa thiêu lễ vật và vào đêm cuối, Tōrōnagashi (灯籠流し), thả
những chiếc đèn nổi trên sông để hướng dẫn linh hồn người quá cố. Theo
truyền thống, kết hợp với một lễ hội múa dân gian, mỗi địa phương có sự
tổ chức khác nhau.[15][16][17] Để tỏ những ước nguyện của mình, người ta viết ước nguyện rồi treo vào câ
Theo Wikipedia
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét